Trao đổi - Phản biện » Kinh tế
Khống chế mứt trần " phí hoa hồng " xăng dầu
(14:41:00 PM 06/11/2012)
Chưa bịt hết kẽ hở
Theo cơ chế hiện hành, chi phí kinh doanh định mức (chi phí lưu thông xăng dầu) quy định “cứng” 600 đồng/lít đối với xăng, dầu diezen, dầu hỏa và 400 đồng/kg đối với dầu madut bán buôn.
Dự thảo mới đã “mềm hóa” khoản chi phí này. Thay vì đưa ra con số tuyệt đối, Bộ Tài chính sẽ ra thông báo điều chỉnh khoản chi phí này linh hoạt theo từng thời điểm.
Trong đó, thù lao đại lý vẫn sẽ theo cơ chế tự thỏa thuận như cũ nhưng Bộ Tài chính dự kiến khống chế mức “trần” thù lao này không được vượt quá 50% chi phí kinh doanh.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, việc khống chế mức trần phí hoa hồng này là khá hợp lý, nhất là trong bối cảnh vừa qua có hiện tượng “loạn phí hoa hồng”.
Khi giá thế giới giảm mạnh, doanh nghiệp đầu mối thay vì giảm giá bán lẻ, đã đẩy thù lao lên cao, nhằm tăng lượng hàng bán ra, chiếm thị phần. Đáng chú ý, những doanh nghiệp nhỏ, nhập hàng ít, không tuân thủ quy định dự trữ lưu thông 30 ngày, tồn kho ít hơn đã lợi dụng thời điểm này, tăng phí hoa hồng tới 1.000 đồng/lít gây cạnh tranh không lành mạnh.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, việc khống chế mức trần phí hoa hồng này là khá hợp lý, nhất là trong bối cảnh vừa qua có hiện tượng “loạn phí hoa hồng”.
Nhưng khi giá thế giới tăng cao, những doanh nghiệp đầu mối nhỏ này gần như “biến mất” khỏi thị trường, nhập hàng cầm chừng hoặc không nhập.
Việc nhập xăng dầu được cấp hạn ngạch theo năm nên những doanh nghiệpcó thể tính toán trong 12 tháng, lúc thị trường thuân lợi thì nhập nhiều, lúc thị trường căng thẳng, dễ lỗ thì không nhập, đẩy phần khó “càng bán càng lỗ” cho các đơn vị còn lại.
Đồng tình với cơ chế áp mức phí trần nhưng Bộ Công Thương cho rằng, giải pháp này là chưa đủ. Bộ Tài chính cần quy định thêm mức thù lao tối thiểu, ví dụ như có thể bằng 30% mức chi phí kinh doanh định mức.
Vì trái ngược với cảnh chạy đua tăng phí hoa hồng, thị trường xăng dầu Việt Nam còn diễn ra hiện tượng phổ biến là “ép” phí hoa hồng quá thấp, có lúc chỉ 50-100 đồng/lít khi giá thế giới căng thẳng.
Điều này khiến cho các đại lý bán lẻ không muốn bán hàng. Nhiều chiêu trò đã được bày ra mà phổ biến nhất trong tháng 8 vừa qua là các cây xăng treo biển hết hàng, “đổ lỗi” cho đầu mối không cấp hàng. Hệ lụy là thị trường bị xáo trộn, khan hiếm xăng dầu “giả tạo”, người tiêu dùng chịu thiệt thòi.
Đáng tiếc là, dự thảo mới của Bộ Tài chính vẫn chưa nêu rõ mức các nguyên tắc tính toán, điều chỉnh chi phí kinh doanh xăng dầu. Bộ Công Thương đã kiến nghị cần minh bạch rõ vấn đề này. Kể cả thời điểm công bố cũng cần cụ thể hơn, như định kỳ vào tháng đầu tiên của năm, hoặc vào quý I hàng năm.
Một vị chuyên gia lâu năm trong ngành này góp ý, cách tính minh bạch nhất là nên dựa theo tỷ lệ lạm phát hàng năm. Trên cơ sở mức phí kinh doanh xăng dầu hiện hành là 600 đồng/lít (riêng madut bán buôn là 400 đồng/kg), hoặc mức phí khoảng 860 đồng/lít như Bộ Tài chính từng dự kiến, Bộ có thể áp dụng nguyên tắc cộng trượt giá, như năm 2011 tính thêm hơn 18% tỷ lệ lạm phát… để ra số phí áp dụng trong năm tiếp theo.
Minh bạch quỹ bình ổn
Liên quan tới Quỹ bình ổn giá xăng dầu, điểm tích cực nhất trong dự thảo mới là Bộ Tài chính đã đưa ra một kịch bản trích lập, sử dụng Quỹ minh bạch hơn.
Chẳng hạn như, nếu cơ chế hiện hành không quy định rõ việc trích Quỹ thì ở dự thảo mới, một cơ chế trích lập theo thị trường đã được bổ sung.
Theo đó, nếu các yếu tố đầu vào biến động làm giá cơ sở cao hơn giá bán lẻ hiện hành 12% hoặc việc tăng giá xăng dầu gây bất lợi cho tình hình kinh tế xã hội, Liên Bộ Tài chính- Công Thương sẽ giảm mức trích Quỹ dưới 300 đồng/lít hoặc ra yêu cầu ngừng trích Quỹ. Sau đó, nếu giá cơ sở giảm, việc trích Quỹ sẽ được khôi phục.
Các kịch bản sử dụng Quỹ bình ổn cơ bản vẫn được giữ nguyên. Nếu biến động giá cơ sở tăng so với giá bán lẻ từ 7%- 12%, doanh nghiệp được tăng giá 7% tương ứng cộng với 60% chênh lệch tăng giá trong khoảng còn lại từ 7-12%, phần 40% còn lại của khoảng chênh lệnh này sẽ được bù đắp từ Quỹ bình ổn.
Nếu như biến động giá cơ sở tăng quá 12%, doanh nghiệp vẫn điều chỉnh giá như trên nhưng phần chênh lệch phát sinh còn lại sẽ không dựa vào một mình Quỹ bình ổn. Khi đó, Liên Bộ Tài chính- Công Thương sẽ áp dụng phối hợp các công cụ tài chính thích hợp như thuế, Quỹ để bình ổn giá.
Đặc biệt, về số dư Quỹ, Bộ Tài chính yêu cầu các doanh nghiệp đầu mối phải có trách nhiệm tính lãi suất Quỹ theo lãi suất ngân hàng thương mại, kỳ hạn 1 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực.
Trong trường hợp số dư Quỹ không còn nhưng Liên Bộ yêu cầu phải “xả” Quỹ, tức vận hành “Quỹ âm”, các doanh nghiệp sẽ được bù đắp bằng mức lãi suất cho vay bằng mức lãi suất Ngân hàng áp dụng kỳ hạn 1 tháng. Phần chênh lệch Quỹ bị âm sẽ được bù đắp từ số tiền trích Quỹ trong thời gian sau.
Như vậy có thể hiểu, vấn đề “Quỹ âm” vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Năm 2011, Kiểm toán Nhà nước đã kết luận việc sử dụng Quỹ âm là bất hợp lý, cần phải sửa đổi.
Bộ Công Thương cũng cho rằng, chỉ nên sử dụng Quỹ bình ổn trong trường hợp Quỹ dương. Bởi lẽ, đây là Quỹ cho người dân đóng góp để sử dụng vào mục đích bình ổn. Khi Quỹ bị âm, tức là Quỹ không còn mà vẫn tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp sử dụng Quỹ thì đồng nghĩa, doanh nghiệp phải bỏ vốn kinh doanh ra để bù đắp “xả Quỹ”. Như vậy, việc điều hành này sẽ không đúng với bản chất Quỹ bình ổn giá do người dân đóng góp, lại làm gia tăng gánh nặng cho doanh nghiệp trong bối cảnh vốn lưu động phải vay từ ngân hàng.
Bộ này cũng cho rằng, quy mô Quỹ phải được khống chế. Khi Quỹ đạt quy mô cần thiết để bình ổn trong một khoảng thời gian nhất định, việc trích Quỹ cần ngưng lại, tránh gánh nặng cho người tiêu dùng.
Bạn cũng có thể quan tâm:
-
Hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc: Từ cam kết chính trị đến liên kết kinh tế xanh thực chất
-
Mở rộng đường Rừng Sác- phát triển hay đánh đổi?
-
Chào mừng Năm Quốc gia Du lịch Gia Lai 2026: Đầu tư nông nghiệp công nghệ cao, chế biến, xuất khẩu và du lịch - hướng đi đúng, hiệu quả
-
Nông nghiệp xanh chỉ thành công khi tiếp thị xanh dựa trên giá trị thật
-
Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Thu hút tư nhân tham gia bảo vệ môi trường là tất yếu
-
Vì sao nông nghiệp có giá trị cao nhất nhưng vẫn bị xem là ‘kèo dưới’?
-
Nhân lực Nông nghiệp 4.0: ‘Lấp đầy’ khoảng trống bằng nỗ lực đa bên
-
Có thể ”để dành” tín chỉ carbon để bán giá cao hơn?
-
Tín chỉ carbon trở thành ”tiền tươi thóc thật”
Bài viết mới:
- Sửa Luật Bảo vệ môi trường 2020: Đã đến lúc cần “luật hóa” lực lượng ứng cứu chuyên nghiệp (07/05/2026)
- Có 14 tập thể và cá nhân đoạt giải cuộc thi “Đồng xanh - Không khí sạch” do Hội BVTN&MT Việt Nam tổ chức (06/05/2026)
- Văn phòng VACNE nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2026 (05/05/2026)
- Cây cổ thụ đầu tiên của xã Bình Định, tỉnh Hưng Yên được công nhận Cây Di sản Việt Nam (05/05/2026)
- Bảo tồn các loài thực vật nguy cấp tại Việt Nam: từ hiện trạng đến giải pháp bền vững (05/05/2026)
- Cây Gội nước hơn 200 năm tuổi tại Vĩnh Long được công nhận Cây Di sản Việt Nam (05/05/2026)
- Sáng kiến tổ chức Cuộc thi Đồng Xanh - Không Khí Sạch do VACNE tổ chức rất xuất sắc (05/05/2026)
- Hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc: Từ cam kết chính trị đến liên kết kinh tế xanh thực chất (24/04/2026)
- VACNE: Thúc đẩy chuyển đổi xanh từ nền tảng tư duy và khoa học (23/04/2026)
- Sinh viên Phạm Đoàn Việt Anh: Tiếp cận mới về an sinh xã hội cho lao động phi chính thức trong nền kinh tế số (21/04/2026)
Sửa Luật Bảo vệ môi trường 2020: Đã đến lúc cần “luật hóa” lực lượng ứng cứu chuyên nghiệp
(Tin Môi Trường) - Trong khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa, quản lý rủi ro, thì thực tiễn lại đặt ra một câu hỏi ngược: khi sự cố xảy ra, hệ thống ứng phó có thực sự vận hành hiệu quả?. Từ góc nhìn của người nhiều năm trực tiếp tham gia xử lý các sự cố môi trường và hiện là Tổng Thư ký - Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, ông Phạm Văn Sơn cho rằng, khoảng trống lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở quy định, mà nằm ở cách chúng ta tổ chức năng lực ứng phó trong thực tế.
168 trạm quan trắc bị can thiệp - khi “sự thật môi trường” bị bóp méo
(Tin Môi Trường) - Thông tin 168 trạm quan trắc môi trường bị can thiệp không chỉ là một con số gây sốc. Nó là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn: niềm tin vào dữ liệu môi trường – nền tảng của quản lý và bảo vệ sức khỏe cộng đồng - đang bị xói mòn.
42 cây mai bị tịch thu và câu chuyện “nguồn gốc” không thể xem nhẹ
(Tin Môi Trường) - Vụ việc một cá nhân bị xử phạt và tịch thu 42 cây mai kiểng không rõ nguồn gốc tại Vườn quốc gia Côn Đảo không đơn thuần là chuyện vi phạm hành chính. Đằng sau con số “42 cây mai” là câu hỏi lớn hơn về ý thức pháp luật, đạo đức môi trường và cách chúng ta ứng xử với tài nguyên thiên nhiên.

Trợ giúp |
Site map |



![Hết[-]thời[-]loạn[-]hoa[-]hồng[-]xăng[-]dầu,[-]Thị[-]trường[-]-[-]Tiêu[-]dùng,[-]hoa[-]hong[-]xang[-]dau,[-]xang[-]dau,[-]thi[-]truong[-]xang[-]dau,[-]phi[-]hoa[-]hong,[-]Bo[-]Tai[-]chinh,[-]Thong[-]tu,[-]co[-]che,[-]Quy[-]binh[-]on[-]xang[-]dau,[-]chi[-]phi[-]kinh[-]doanh,[-]chuyen[-]gia[-]kinh[-]te,[-]doanh[-]nghiep[-]dau[-]moi,[-]gia[-]the[-]gioi,[-]gia[-]ban[-]le,](/public/media/media/picture/xang 1.jpg)



























