Trao đổi - Phản biện » Pháp lý
Việt Nam đề nghị LHQ lưu hành văn bản phản đối Trung Quốc
(08:58:25 AM 04/07/2014)Tàu Trung Quốc bảo vệ giàn khoan Hải Dương-981 hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
Các tài liệu cũng khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ các yêu sách không có cơ sở pháp lý và lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo này.
Văn bản thứ nhất thể hiện Việt Nam phản đối Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981; kiên quyết bác bỏ toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp lý, các luận cứ của Trung Quốc nêu trong các văn bản kèm theo các thư ngày 22/5 và ngày 9/6 của Đại biện Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc.
Việt Nam cho rằng Trung Quốc đang làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế do hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà tại đó Việt Nam được hưởng các quyền của một quốc gia ven biển theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Ngoài ra, để bảo vệ hoạt động bất hợp pháp của giàn khoan trên, Trung Quốc đã đưa hơn 100 tàu hộ tống, trong đó có tàu quân sự vào vùng biển của Việt Nam. Các tàu hải cảnh của Trung Quốc chủ động liên tục đâm húc, bắn vòi rồng vào các tàu chấp pháp của Việt Nam, thậm chí còn đâm chìm một tàu cá của ngư dân Việt Nam.
Văn bản trên cho biết tất cả các nỗ lực và thiện chí của Việt Nam để giải quyết tình hình căng thẳng thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình khác đã liên tục bị Trung Quốc khước từ.
Văn bản thứ hai đề cập tới chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và hoàn toàn bác bỏ cả trên thực tế cũng như pháp lý, yêu sách không có cơ sở pháp lý và lịch sử về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) nêu trong văn bản của Đại biện Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc ngày 22/5 và 9/6.
Trong văn bản thứ hai này, Bộ Ngoại giao nước ta đã chỉ rõ các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa; khẳng định những tài liệu Trung Quốc dẫn chiếu nhằm chứng minh cho cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện.
Các tài liệu này không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi chép lịch sử cho thấy chủ quyền của Trung Quốc chưa bao giờ có quần đảo Hoàng Sa.
Trong khi đó, Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh thổ vô chủ. Việt Nam cũng đưa ra các bằng chứng cho thấy quần đảo Hoàng Sa không được giao cho Trung Quốc tại các Hội nghị quốc tế trước và sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai như: Hội nghị Cairo (11/1943), Hội nghị Potsdam (7/1945), Hội nghị hòa bình San Francisco (8/1951), Hội nghị Geneva (1954).
Tài liệu cũng nêu rõ Trung Quốc đã sử dụng vũ lực hai lần xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Cụ thể, năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa và bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa phản đối mạnh mẽ.
Sau đó, năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung Quốc đã tấn công và chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc.
Bị vong lục ngày 12 tháng 5 năm 1988 của Trung Quốc - một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc - cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Văn bản thứ hai còn khẳng định Việt Nam chưa bao giờ công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, vạch rõ việc Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa.
Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Như vậy, đây là lần thứ tư Việt Nam gửi thư đề nghị Tổng thư ký Liên hợp quốc lưu hành các tài liệu của Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Bạn cũng có thể quan tâm:
-
42 cây mai bị tịch thu và câu chuyện “nguồn gốc” không thể xem nhẹ
-
Cần làm rõ chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân
-
Chủ tịch thành phố Cam Ranh thua kiện người san ủi đất thuê
-
Vụ án làm giả báo cáo ĐTM: Cơ quan nào có thẩm quyền phê duyệt?
-
Đắk Lắk chưa báo cáo về các gói thầu liên quan đến Công ty Công Minh
-
Sau gần 8 tháng, Sở Xây dựng vẫn chưa báo cáo kết quả kiểm tra Đồi Cù Đà Lạt
-
Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục lên tiếng vụ san lấp vùng đệm vịnh Hạ Long
-
Quốc hội thông qua Luật Tài nguyên nước (sửa đổi): Nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước
-
Thái Bình giảm diện tích khu bảo tồn không đúng luật
Bài viết mới:
- Sửa Luật Bảo vệ môi trường 2020: Đã đến lúc cần “luật hóa” lực lượng ứng cứu chuyên nghiệp (07/05/2026)
- Có 14 tập thể và cá nhân đoạt giải cuộc thi “Đồng xanh - Không khí sạch” do Hội BVTN&MT Việt Nam tổ chức (06/05/2026)
- Văn phòng VACNE nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2026 (05/05/2026)
- Cây cổ thụ đầu tiên của xã Bình Định, tỉnh Hưng Yên được công nhận Cây Di sản Việt Nam (05/05/2026)
- Bảo tồn các loài thực vật nguy cấp tại Việt Nam: từ hiện trạng đến giải pháp bền vững (05/05/2026)
- Cây Gội nước hơn 200 năm tuổi tại Vĩnh Long được công nhận Cây Di sản Việt Nam (05/05/2026)
- Sáng kiến tổ chức Cuộc thi Đồng Xanh - Không Khí Sạch do VACNE tổ chức rất xuất sắc (05/05/2026)
- Hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc: Từ cam kết chính trị đến liên kết kinh tế xanh thực chất (24/04/2026)
- VACNE: Thúc đẩy chuyển đổi xanh từ nền tảng tư duy và khoa học (23/04/2026)
- Sinh viên Phạm Đoàn Việt Anh: Tiếp cận mới về an sinh xã hội cho lao động phi chính thức trong nền kinh tế số (21/04/2026)
Sửa Luật Bảo vệ môi trường 2020: Đã đến lúc cần “luật hóa” lực lượng ứng cứu chuyên nghiệp
(Tin Môi Trường) - Trong khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa, quản lý rủi ro, thì thực tiễn lại đặt ra một câu hỏi ngược: khi sự cố xảy ra, hệ thống ứng phó có thực sự vận hành hiệu quả?. Từ góc nhìn của người nhiều năm trực tiếp tham gia xử lý các sự cố môi trường và hiện là Tổng Thư ký - Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, ông Phạm Văn Sơn cho rằng, khoảng trống lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở quy định, mà nằm ở cách chúng ta tổ chức năng lực ứng phó trong thực tế.
168 trạm quan trắc bị can thiệp - khi “sự thật môi trường” bị bóp méo
(Tin Môi Trường) - Thông tin 168 trạm quan trắc môi trường bị can thiệp không chỉ là một con số gây sốc. Nó là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn: niềm tin vào dữ liệu môi trường – nền tảng của quản lý và bảo vệ sức khỏe cộng đồng - đang bị xói mòn.
Hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc: Từ cam kết chính trị đến liên kết kinh tế xanh thực chất
(Tin Môi Trường) - Diễn ra trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc ngày 23/4/2026 tại Hà Nội không chỉ là một sự kiện ngoại giao - kinh tế quan trọng, mà còn phản ánh rõ bước chuyển trong tư duy hợp tác song phương: từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng, từ kết nối đầu tư sang đồng kiến tạo các mô hình phát triển bền vững dựa trên nền tảng công nghệ, xanh hóa và chuẩn mực toàn cầu.

Trợ giúp |
Site map |



.jpg)



























