(Tin Môi Trường) - Ngày 10/9/2026, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ đã đánh giá xuất sắc luận văn “Thông tin về nạn nhân chất độc da cam trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” của học viên Lê Phương Khanh. Đây là công trình nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng, hiệu quả và những vấn đề đặt ra đối với hoạt động truyền thông về nạn nhân chất độc da cam trong môi trường báo chí số.

Quyết định số 2733-QĐ/HVBCTT-ĐT ngày 12/8/2026 của Học viện Báo chí và Tuyên truyền về việc thành lập Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ của học viên Lê Phương Khanh
Theo Quyết định số 2733-QĐ/HVBCTT-ĐT ngày 12/8/2026 của Học viện Báo chí và Tuyên truyền về việc thành lập Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Hội đồng được thành lập để chấm luận văn của học viên Lê Phương Khanh, lớp Cao học Quản lý báo chí – truyền thông 30.2B (2024–2026), hệ chính quy, ngành Báo chí học, chuyên ngành Quản lý báo chí truyền thông.
Hội đồng chấm luận văn gồm PGS.TS Phạm Minh Sơn, Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Chủ tịch Hội đồng; TS. Đinh Thị Xuân Hòa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Phản biện 1; TS. Nguyễn Đăng Khang, Báo Đại Đoàn kết – Phản biện 2; TS. Vũ Huyền Nga, Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Ủy viên; TS. Nguyễn Thị Hằng Thu, Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Thư ký Hội đồng.
PGS.TS Hà Huy Phượng là Giáo viên hướng dẫn luận văn của học viên Lê Phương Khanh.
Việc thành lập Hội đồng được thực hiện trên cơ sở các quy định về đào tạo trình độ thạc sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quy định đào tạo trình độ thạc sĩ của Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Tại buổi bảo vệ ngày 10/9, luận văn được Hội đồng đánh giá cao về tính thực tiễn và ý nghĩa đối với hoạt động báo chí, truyền thông. Kết quả chấm luận văn đạt mức xuất sắc.
Nghiên cứu một vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân văn
Đề tài “Thông tin về nạn nhân chất độc da cam trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” tập trung nghiên cứu cách thức báo chí phản ánh vấn đề nạn nhân chất độc da cam/dioxin – một vấn đề có ý nghĩa nhân đạo, xã hội và chính sách lâu dài ở Việt Nam.
Theo nghiên cứu, hơn nửa thế kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, hậu quả của chất độc da cam/dioxin vẫn đặt ra nhiều vấn đề đối với đời sống xã hội. Những hệ lụy lâu dài liên quan đến y tế, kinh tế, xã hội và tâm lý khiến việc chăm lo, hỗ trợ nạn nhân không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn cần sự chung tay của toàn xã hội.
Trong quá trình đó, báo chí giữ vai trò là cầu nối giữa chủ trương, chính sách với đời sống; góp phần định hướng dư luận, lan tỏa các giá trị nhân văn và huy động sự tham gia của cộng đồng.
Đặc biệt, với ưu thế về tốc độ cập nhật, khả năng tích hợp đa phương tiện và tương tác với công chúng, báo mạng điện tử đang tạo ra những phương thức truyền thông mới, mở rộng phạm vi tiếp cận và nâng cao hiệu quả truyền thông đối với các vấn đề xã hội.
.jpeg)
Học viên Lê Phương Khanh chụp ảnh cùng Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ sau buổi bảo vệ đề tài “Thông tin về nạn nhân chất độc da cam trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay”, ngày 10/9/2026 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Khảo sát thông tin trên ba cơ quan báo chí
Luận văn khảo sát hoạt động thông tin về nạn nhân chất độc da cam trên Báo Nhân Dân điện tử, Báo Tuổi Trẻ điện tử và Báo Cựu chiến binh Việt Nam điện tử trong năm 2025.
Nghiên cứu phân tích các yếu tố như tần suất thông tin, chủ đề phản ánh, thể loại báo chí, hình thức thể hiện, nguồn tin, giọng điệu truyền thông và mức độ tương tác với công chúng. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu để bổ sung các dữ liệu định tính.
Kết quả khảo sát cho thấy, các cơ quan báo chí đã dành sự quan tâm nhất định đến vấn đề nạn nhân chất độc da cam, góp phần tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, phản ánh các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ nạn nhân và lan tỏa tinh thần nhân văn trong cộng đồng.
Tuy nhiên, lượng thông tin vẫn còn tương đối khiêm tốn và chưa hình thành dòng thông tin thường xuyên. Trong năm 2025, Báo Nhân Dân điện tử có 11 bài, Báo Cựu chiến binh Việt Nam điện tử có 10 bài và Báo Tuổi Trẻ điện tử có 4 bài được khảo sát trực tiếp về chủ đề này.
Đáng chú ý, thông tin có xu hướng tập trung vào những thời điểm, sự kiện như Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 và Ngày Vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam 10/8. Sau những thời điểm này, tần suất thông tin giảm đáng kể.
Điều đó cho thấy truyền thông về nạn nhân chất độc da cam vẫn mang tính sự kiện, trong khi đây là vấn đề xã hội lâu dài và có tính liên thế hệ.
Cần tăng chiều sâu và đổi mới phương thức truyền thông
Một trong những kết quả đáng chú ý của nghiên cứu là nội dung thông tin trên các báo chủ yếu tập trung vào tuyên truyền chính sách, phản ánh hoạt động chăm sóc, hỗ trợ nạn nhân, các mô hình nhân đạo và những câu chuyện có ý nghĩa tích cực.
Trong khi đó, các tác phẩm điều tra, phân tích chuyên sâu, sử dụng dữ liệu để đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách hoặc phản biện chính sách còn hạn chế.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc khai thác thế mạnh của báo mạng điện tử chưa tương xứng với tiềm năng. Các hình thức như video chuyên đề, infographic, podcast, báo chí dữ liệu, long-form hay các tuyến bài dài kỳ về nạn nhân chất độc da cam còn ít được sử dụng.
Từ thực tế này, luận văn đề xuất các cơ quan báo chí cần chuyển từ truyền thông theo sự kiện sang xây dựng chiến lược truyền thông dài hạn; phát triển chuyên trang, chuyên mục và các tuyến bài chuyên sâu về nạn nhân chất độc da cam.
Đồng thời, cần tăng cường các tác phẩm phân tích, điều tra và phản biện chính sách; phản ánh đầy đủ hơn tiếng nói của nạn nhân và gia đình; khai thác hiệu quả báo chí dữ liệu và các hình thức kể chuyện đa phương tiện.
PGS.TS Hà Huy Phượng (bên phải) là Giáo viên hướng dẫn luận văn cho học viên Lê Phương Khanh.
Hướng tới truyền thông nhân văn, hiện đại
Luận văn cho rằng truyền thông về nạn nhân chất độc da cam không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hoàn cảnh hay vận động hỗ trợ mà cần hướng tới việc nâng cao nhận thức xã hội, thúc đẩy thực hiện chính sách và bảo đảm quyền được tiếp cận các cơ hội về giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe và hòa nhập xã hội của nạn nhân.
Một điểm đáng ghi nhận trong nghiên cứu là các tác phẩm được khảo sát nhìn chung thể hiện sự tôn trọng nhân phẩm của nạn nhân, hạn chế việc khai thác yếu tố bi thương để thu hút công chúng. Đây là yêu cầu quan trọng đối với truyền thông nhân đạo trong bối cảnh báo chí hiện đại.
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở nghiên cứu và các tổ chức xã hội nhằm xây dựng nguồn dữ liệu tin cậy, chia sẻ tư liệu và triển khai những chiến dịch truyền thông có chiều sâu.
Qua nghiên cứu, tác giả cũng nhấn mạnh yêu cầu đào tạo đội ngũ nhà báo có kiến thức về truyền thông nhân đạo, truyền thông chính sách, quyền con người và kỹ năng tác nghiệp đa phương tiện trong môi trường số.
Có thể thấy, nghiên cứu “Thông tin về nạn nhân chất độc da cam trên báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay” không chỉ góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho nghiên cứu báo chí mà còn đặt ra những vấn đề thực tiễn đối với hoạt động truyền thông về nạn nhân chất độc da cam trong thời kỳ chuyển đổi số.